Header
18:48 EDT Thứ hai, 15/08/2022
Rss
1

TIN KINH DOANH

BẠN CÓ BIẾT

Quỹ đầu tư phát triển Ninh Bình thành lập từ năm nào?

Năm 2003

Năm 2008

Năm 2012

Năm 2013

  • Cải cách hành chính Cải cách hành chính
  • Toà nhà Toà nhà
  • Núi Thuý Núi Thuý

Trang nhất » Tin Tức » CÁC THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG,SỰ KIỆN MỚI » CÁC CHÍNH SÁCH, VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT MỚI

NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ NĂM 2020

Thứ sáu - 27/11/2020 03:26
NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ NĂM 2020

NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ NĂM 2020

     1. Luật quản lý thuế Số 38/2019/QH14.
     Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2019 với nhiều nội dung quan trọng như: Kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế, mở rộng quyền người nộp thuế... và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2020, dưới đây là những điểm mới:
     - Kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN
     Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Quản lý thuế 2006, thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch, hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán năm.
     Tuy nhiên, theo điểm b khoản 2 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019 cho phép cá nhân được nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch (kéo dài thêm 01 tháng so với Luật Quản lý thuế 2006).
     - Bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử
     Hóa đơn điện tử là hóa đơn được thể hiện ở dạng dữ liệu điện tử do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật kế toán, pháp luật thuế bằng phương tiện điện tử. Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử đang phát triển rất mạnh nên việc yêu cầu bắt buộc dùng hóa đơn điện tử để quản lý thuế là điều tất yếu.
     Khoản 4 Điều 42 quy định: Đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
     Trước đây, các quy định về hóa đơn điện tử được quy định tại các văn bản dưới luật, điển hình là Nghị định 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018.Theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2019, các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2022.
     - Bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho đại lý thuế
     Tại điểm c khoản 1 Điều 104 quy định: Đại lý thuế được cung cấp “Dịch vụ kế toán cho Doanh nghiệp siêu nhỏ, Doanh nghiệp siêu nhỏ được xác định theo quy định của pháp luật về hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Quy định này cho phép các đơn vị kinh doanh đại lý thuế thêm chức năng cung cấp dịch vụ kế toán ngoài việc cung cấp dịch vụ đại lý thuế đang thực hiện, điều này phù hợp với Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp những Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tiết kiệm chi phí khi thay vì thuê hai đơn vị thực hiện hai dịch vụ (tư vấn thuế và kế toán), nay chỉ cần một đơn vị thực hiện 2 nhiệm vụ trên. Các đại lý thuế cũng được mở rộng phạm vi kinh doanh, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh và phát triển.
     - Siết chặt quản lý hoạt động chuyển giá
     Hiện nay, hành vi trốn thuế thông qua chuyển giá ngày càng phổ biến. Để ngăn chặn tình trạng trên, Luật Quản lý thuế 2019 nghiêm cấm hành vi: Thông đồng, móc nối, bao che giữa người nộp thuế và công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế để chuyển giá, trốn thuế.
     Để quản lý chặt chẽ hành vi trốn thuế, khoản 5 Điều 42 quy định nguyên tắc kê khai, xác định giá tính thuế đối với giao dịch liên kết như sau:
     - Kê khai, xác định giá giao dịch liên kết theo nguyên tắc phân tích, so sánh với các giao dịch độc lập và nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp như trong điều kiện giao dịch giữa các bên độc lập;
     - Giá giao dịch liên kết được điều chỉnh theo giao dịch độc lập để kê khai, xác định số tiền thuế phải nộp theo nguyên tắc không làm giảm thu nhập chịu thuế;
     Lưu ý: Người nộp thuế có quy mô nhỏ, rủi ro về thuế thấp được miễn thực hiện quy định kê khai, xác định giá tính thuế theo nội dung trên và được áp dụng cơ chế đơn giản hóa trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết.
 
     - Bổ sung quyền của người nộp thuế
     So với  quy định tại Luật quản lý thuế 2006, Luật Quản lý thuế số 38/2019 (Điều 16) nhiều quyền mới được bổ sung nhằm đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế như:
     - Được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế của các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
- Được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số tiền thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số tiền thuế không được hoàn.
     - Được tra cứu, xem, in toàn bộ chứng từ điện tử mà mình đã gửi đến cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và pháp luật về giao dịch điện tử.
     - Được sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch với cơ quan quản lý thuế và cơ quan, tổ chức có liên quan.
     - Không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
     - Bổ sung các trường hợp được xóa tiền nợ thuế, tiền phạt, chậm nộp
Theo Điều 85 Luật Quản lý thuế 2019, từ ngày 01/7/2020 sẽ có 04 trường hợp được xóa tiền nợ thuế, tiền phạt, chậm nộp, cụ thể:
     + Doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. (Bổ sung thêm đối tượng là hợp tác xã so với quy định hiện hành).
     + Cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản, bao gồm cả tài sản được thừa kế để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ.
     + Các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không còn khả năng thu hồi. (Đây là quy định được bổ sung mới so với hiện hành).
     + Tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với các trường hợp bị ảnh hưởng do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh có phạm vi rộng đã được xem xét miễn tiền chậm nộp và đã được gia hạn nộp thuế mà vẫn còn thiệt hại, không có khả năng phục hồi được sản xuất, kinh doanh và không có khả năng nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. (Đây là quy định được bổ sung mới so với hiện hành).
     2. Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế.
     Nghị định 126/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/12/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế áp dụng đối với việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước, trừ nội dung quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, áp dụng hóa đơn, chứng từ, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về thuế và hóa đơn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. 
     Đối với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu, xóa nợ phát sinh trước ngày 01/7/2020 thì tiếp tục xử lý theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2006 đã được sửa đổi tại Luật số 21/2012/QH13Luật số 71/2014/QH13Luật số 106/2016/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành. 
     Đối với các khoản tiền nợ thuế đến hết ngày 30/6/2020 thì được xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 126/2020/NĐ-CP (trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 43 Nghị định 126/2020/NĐ-CP).
     Các trường hợp đã được Chính phủ cho phép gia hạn thời gian nộp thuế thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của Chính phủ. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các trường hợp thuộc diện kê khai thuế theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 11 Nghị định 126/2020/NĐ-CP đảm bảo thực hiện cho năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo kể từ khi Luật Quản lý thuế 2019 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành. 
     3. Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về xử phạt hành chính về thuế, hóa đơn.
     Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử lý, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và một số thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; không áp dụng đối với vi phạm hành chính về phí, lệ phí; vi phạm hành chính về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu do cơ quan hải quan quản lý thu và vi phạm quy định về thủ tục đăng ký thuế, vi phạm quy định về thông báo tạm ngừng kinh doanh, thông báo tiếp tục hoạt động kinh doanh trước thời hạn với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký hợp tác xã của tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký thuế cùng với đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký kinh doanh.
     Người nộp thuế áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật này trước ngày 01/7/2022 nếu vi phạm quy định về hóa đơn điện tử thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.
     Kể từ ngày 05/12/2020 Nghị định 125/2020/NĐ-CP có hiệu lực; Quy định tại các Nghị định và Thông tư sau đây hết hiệu lực:
     - Chương I, III Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt VPHC về thuế và cưỡng chế thi hành quyết đinh hành chính thuế;
     - Khoản 2 Điều 4 Chương 1, Chương 4, Điều 44 Chương 5 Nghị định 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn;
     - Điều 3 Nghị định 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 sửa đổi Nghị định 109/2013/NĐ-CP;
     - Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013, Thông tư 10/2014/TT-BTC ngày 17/01/2014, Thông tư 176/2016/TT-BTC ngày 31/10/2016.
     Đồng thời, Quy định chuyển tiếp:
     - Áp dụng quy định tại Chương XV Luật Quản lý thuế 2019; Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Nghị định 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn và Nghị định 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn xảy ra từ ngày 01/7/2020 đến trước ngày 05/12/2020.
     Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thực hiện trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng hành vi vi phạm đó kết thúc kể từ khi Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm đó.
     - Các quy định về xử phạt tại Chương I, II, III Nghị định 125/2020/NĐ-CP, quy định về hoãn, miễn thi hành quyết định xử phạt có lợi cho cá nhân, tổ chức viphạm hành chính về thuế, hóa đơn được áp dụng đối với hành vi xảy ra trước ngày 05/12/2020 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết.
     - Đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã bị xử phạt trước ngày 01/7/2020 mà cá nhân, tổ chức còn khiếu nại, khởi kiện thì được giải quyết theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.
     4. Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về hóa đơn, chứng từ.
     Nghị định này quy định việc quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ có hiệu lực từ ngày 01/7/2022. Nghị định có nhiều sự thay đổi về hóa đơn, chứng từ cụ thể như sau:

     - Bãi bỏ quy định bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử từ 01/11/2020

     Trước đây, cả Nghị định 119 và Thông tư số 68 về hóa đơn đều có nội dung quy định bắt buộc các đơn vị kinh doanh phải hoàn thành chuyển đổi hóa đơn điện tử trước ngày 01/11/2020. Tuy nhiên, tại Khoản 3, Điều 59, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, Chính Phủ quy định bãi bỏ Khoản 2, Điều 35, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP kể từ ngày 01/11/2020. Thời hạn cuối cùng các doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng hóa đơn điện tử sẽ được thay đổi sang ngày 01/07/2022. Mặt khác, Chính Phủ cũng nêu rõ quan điểm khuyến khích các đơn vị kinh doanh đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin nhanh chóng chuyển đổi, áp dụng hóa đơn điện tử trước thời hạn quy định càng sớm càng tốt.

     - Quy định sử dụng hóa đơn đã phát hành trước ngày bàn hành Nghị định 123/2020/NĐ-CP

     Đối với các hóa đơn đã được doanh nghiệp thông báo phát hành hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế hoặc đã đăng ký áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, đã mua hóa đơn của cơ quan thuế trước ngày Nghị định số 123/2020/NĐ-CP phát hành, hướng dẫn xử lý chuyển tiếp được quy định tại Khoản 1, Điều 60 của Nghị định này như sau:
     + Các đơn vị kinh doanh vẫn được tiếp tục sử dụng hóa đơn đang dùng từ nay đến hết ngày 30/06/2022, áp dụng với các hóa đơn đã thông báo phát hành hoặc đã đăng ký áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, đã mua hóa đơn của cơ quan thuế từ trước ngày 19/10/2020. Như vậy, từ nay đến 30/06/2022, các đơn vị kinh doanh trên hoàn toàn được phép sử dụng song song cùng lúc cả chứng từ giấy và hóa đơn điện tử.
     + Bên cạnh việc có thể sử dụng song song cùng lúc cả hóa đơn, chứng từ giấy và hóa đơn điện tử, các đơn vị kinh doanh phải nghiêm túc tuân thủ quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đồng thời phải thực hiện các thủ tục thực hiện gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế theo Mẫu số 03/DL-HĐĐT, Phụ lục IA, ban hành kèm theo Nghị định này cùng với việc nộp tờ khai thuế GTGT.
     Theo quy định, sau khi nhận được dữ liệu hóa đơn theo Mẫu số 03/DL- hóa đơn điện tử từ các đơn vị kinh doanh chưa đủ điều kiện chuyển đổi, cơ quan thuế sẽ xây dựng dữ liệu hóa đơn của cơ sở kinh doanh để đưa vào cơ sở dữ liệu hóa đơn và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế phục vụ việc tra cứu dữ liệu hóa đơn.

     - Quy định sử dụng hóa đơn với đơn vị kinh doanh mới thành lập

     Theo quy định tại Khoản 2, Điều 60 của Nghị định này, việc sử dụng hóa đơn, chứng từ với các đơn vị kinh doanh mới thành lập được áp dụng như sau:
     + Các đơn vị kinh doanh mới thành lập từ nay đến 30/06/2022 phải thực hiện áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định của Nghị định này khi nhận được thông báo thực hiện chuyển đổi hóa đơn điện tử từ cơ quan thuế.
     + Các đơn vị kinh doanh mới thành lập nếu chưa thể đáp ứng đầy đủ điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin thì sẽ tiếp tục được sử dụng hóa đơn đang dùng; song song với đó phải tiến hành thủ tục gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế theo Mẫu số 03/DL-HĐĐT, Phụ lục IA, ban hành kèm theo Nghị định này cùng với việc nộp tờ khai thuế GTGT.

     - Quy định những trường hợp được sử dụng hóa đơn đặt in sau ngày 01/07/2020

     Theo quy định tại Điều 23, Nghị định này, một số đối tượng dưới đây sẽ được phép sử dụng hóa đơn đặt in, thay vì phải bắt buộc phải áp dụng hóa đơn điện tử theo thời hạn (từ ngày 01/07/2022):
     + Các đơn vị kinh doanh được quy định tại Điều 14, Nghị định 123/2020/NĐ-CP được phép áp dụng hóa đơn do cơ quan thuế đặt in trong trường hợp: không thực hiện giao dịch với cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử; không có hạ tầng công nghệ thông tin, không có hệ thống phần mềm kế toán, không có phần mềm lập hóa đơn điện tử để có thể dùng hóa đơn điện tử và truyền dữ liệu hóa đơn điện tử tới cơ quan thuế.
     + Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân kinh doanh trong thời gian hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cấp mã hóa của cơ quan thuế gặp sự cố thì sẽ được áp dụng hóa đơn do cơ quan thuế đặt in.
     Như vậy, bài viết trên đây đã cập nhật những quy định mới về chính sách thuế năm 2020 gồm Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và 03 Nghị định quy định chi tiết một số điều vủa Luật Quản lý thuế, về hóa đơn, chứng từ và xử phạt hành chính về thuế, hóa đơn./.  
     * Tài liệu đính kèm:
     - Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14;
     - Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế;
     - Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về xử phạt hành chính về thuế, hóa đơn;
     Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về hóa đơn, chứng từ.


Tác giả bài viết: Phòng Tài chính - Kế hoạch

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn